Slider

Hầu như vương triều nào vào thời mạt vận cũng xuất hiện nhiều gian thần tác oai tác quái. Gian thần bởi thế chính là dấu hiệu báo điềm diệt vong của quốc gia. Hãy cùng điểm qua một số gương mặt như thế trong lịch sử Trung Hoa.

1 - Bá Bỉ

Bá Bỉ là con của Bá Khích Uyển (Một danh thần nước Sở thời Xuân Thu - Chiến Quốc). Sau này gia tộc gặp nạn, Bá Bỉ thoát được, lại gặp biến cố Ngô đánh Sở, Bá Bỉ trốn sang nước Ngô nương nhờ Ngũ Tử Tu. Sau được Ngũ Tử Tu tiến cử, Bá Bỉ được vua Ngô là Hạp Lư cho giữ chức Đại Phu cùng Ngũ Tử Tu bàn việc nước. 

Về tài quân sự, Bá Bỉ không bằng Tôn Vũ, tài trị quốc ông ta không so được với Ngũ Tử Tu, nhưng vốn có miệng lưỡi giảo hoạt, tài xu nịnh nên được lòng Ngô Hạp Lư. Hơn nữa Bá Bỉ cũng có công lớn trong việc giúp Phù Sai đoạt ngôi thái tử từ anh mình là Chung Lũy, nên sau khi Phù Sai lên ngôi Bá Bỉ lại càng được trọng dụng hơn nữa. 

nhung dai gian than 1

Bá Bỉ vốn tham lam của cải vật chất, biết được điều này thừa tướng nước Việt là Văn Chủng đã đút lót nhiều vàng bạc để Bá Bỉ nói đỡ cứu Việt Vương Câu Tiễn thoát khỏi họa vong quốc khi nước Việt bị Ngô tấn công. Sau này cũng chính Bá Bỉ là người giúp Câu Tiễn trở về nước Việt an toàn. 

Bá Bỉ cũng là người đã hãm hại Ngũ Tử Tư, vu cho ông tội phản quốc để rồi bị Phù Sai ép tự tử. Sau này, Việt diệt Ngô, Phù Sai chết, Bá Bỉ bị Câu Tiễn tịch thu hết gia sản, phế thành dân thường. 

Như vậy, có thể thấy họa mất nước của Phù Sai, phần lớn đều do quá tin dùng Bá Bỉ mà ra.

2 - Triệu Cao

Triệu Cao (? - 207 TCN) là một hoạn quan, Thừa tướng của triều đại nhà Tần, có ảnh hưởng chính trị rất lớn trong suốt giai đoạn tồn tại của nhà Tần. Ông đã trải qua cả ba đời quân chủ nước Tần là Tần Thủy Hoàng, Tần Nhị Thế và Tần Tử Anh, nắm quyền hành rất lớn.

Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng bị bệnh trên đường tuần du, không lâu sau chết ở Sa Khâu (nay là Quảng Tông, Hà Bắc). Hoạn quan Triệu Cao vốn là người có dã tâm, xuyên tạc di chúc của Tần Thủy Hoàng, trừ bỏ con trưởng Phù Tô, lập con thứ Hồ Hợi làm vua. Sự kiện này được gọi là “Sa Khâu chi biến” nổi tiếng.

nhung dai gian than 2

Để độc chiếm quyền lực, Triệu Cao xúi bẩy Nhị Thế giết chết Lý Tư cùng nhiều đại thần rồi một mình thao túng triều chính trong vai trò Thừa tướng. Lòng tham của thái giám Triệu Cao lên tới đỉnh điểm khi phái cả nghìn quân vây kín Vọng Di cung, ép Nhị Thế phải nhường ngôi cho mình. Hôn quân Hồ Hợi hèn mọn chỉ biết khóc lóc thảm thiết, rồi tự sát vì bất lực.

Sau khi Hồ Hợi bị giết, Triệu Cao muốn xưng vương ở Quan Trung, bèn bí mật liên lạc với Lưu Bang để xin cùng diệt nhà Tần và chia đôi Quan Trung. Để thực hiện mưu đồ này, ông ta lập Tần Tử Anh (em trai Tần Thủy Hoàng) lên ngôi vua, định sau này sẽ giết chết. Nhưng sau 5 ngày lên làm vua, Tần Tử Anh đã cho người giết chết Triệu Cao và tru di tam tộc.

3 - Lưu Tỵ

Lưu Tỵ vốn là cháu của Hán Cao Tổ Lưu Bang, có công giúp Hán Cao Tổ bình loạn Anh Bố nên đã được phân phong làm Ngô vương, đóng ở Nghiễm Lăng, cai quản ba quận, 53 thành.

Lưu Tỵ vốn có tướng phản phúc, lại có dã tâm muốn thâu tóm thiên hạ từ lâu. Năm 174 TCN, con Lưu Tị là Ngô Thái tử Lưu Hiền vào kinh đô triều kiến Hán Văn Đế, uống rượu đánh cờ với thái tử Khải. Hai bên xảy tranh chấp, Ngô thái tử tính cách thô bạo, không biết trên dưới khiêm nhường, nên xảy ra xô xát với Hoàng Thái Tử, hai bên đánh nhau, trong lúc hỗn chiến Hoàng Thái Tử đã lỡ tay đánh chết Lưu Hiền. 

nhung dai gian than 3

Từ đó trở đi, Lưu Tỵ ngày càng oán hận triều đình hơn. Năm 157 TCN, Hán Văn đế qua đời, thái tử Lưu Khải lên nối ngôi, tức Hán Cảnh đế. Cảnh Đế tin dùng Tiều Thố, nhiều lần nghe theo kiến nghị của Tiều Thố, làm giảm thế lực của chư hầu.

Nhân chuyện đó, Lưu Tỵ quyết định khởi xướng loạn 7 nước. Loạn 7 nước kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch năm 154 TCN thì bị dẹp. Quân làm phản thất bại hoàn toàn, các vua chư hầu làm phản đều mất mạng. 

Triều đình treo giải thưởng 1000 cân vàng cho ai lấy được đầu Lưu Tỵ và sai sứ giả đến Đông Việt thuyết phục giết Ngô vương. Người Đông Việt bèn lừa Ngô vương, dụ ra ủy lạo quân sĩ rồi sai người hành thích giết chết Ngô vương, sai người cắt đầu ngày đêm mang về Trường An dâng Hán Cảnh Đế.

4 - Tần Cối

Tần Cối tên hiệu là Hội Chi (1090 - 1155), là Thừa tướng của nhà Tống, bị đánh giá là một Hán gian vì đã hại chết Nhạc Phi, anh hùng chống quân Kim. Sau khi đầu hàng người Kim, Tần Cối tiếp tục hãm hại trung lương. Đối với những người kiên quyết kháng Kim, thu phục Trung Nguyên, bảo vệ quốc gia dân chúng như Nhạc Phi, Tần Cối coi như mối họa lớn. Ngột Truật, đại tướng nhà Kim, phái người đưa mật thư cho Tần Cối, nói rằng: “Triều đình nhà ngươi xin cầu hòa với triều đình Đại Kim ta, nhưng Nhạc Phi cứ muốn đoạt Trung Nguyên khỏi tay chúng ta. Ngươi nhất định phải tìm cách giết Nhạc Phi, chúng ta mới đồng ý nghị hòa”.

Tần Cối cũng sợ hễ Nhạc Phi còn sống thì có ngày âm mưu bại lộ, kết cục không hay nên hạ quyết tâm sát hại cho kỳ được Nhạc Phi. Hắn bịa đặt tội danh phản quốc để giết hại Nhạc Phi, tạo thành án oan thiên cổ.

Sau khi hãm hại trung thần, Tần Cối bắt đầu phải chịu trả giá. Một ngày, khi đang đi chơi ngắm cảnh Tây Hồ, đột nhiên hắn nhìn thấy có một người khổng lồ nghiêm giọng nói: “Ngươi tàn hại trung lương, tội đáng phanh thây vạn mảnh“. Về đến nhà, lưng Tần Cối bắt đầu bị hoại thư.

nhung dai gian than 4

Tần Cối muốn xây một ngục lớn, âm mưu hãm hại Hàn Thế Trung, Trương Tín, Trương Trung Hiến, Hồ Văn Định… Hắn rắp tâm mở đại ngục, tàn hại trung thần. Một hôm Tần Cối đang ngồi viết thì đột nhiên tâm thần mê đảo, thấy một vị thần cầm chùy đánh vào người, bảo hắn: “Ngươi tội ác quá nhiều, giờ chết đã cận kề, còn cả gan mưu hại trung lương!“. Tần Cối thất kinh, kêu lớn: “Tha mạng!“.

Tần Cối không thể cầm nổi bút để phê chuẩn vào danh sách những trung lương phải bị hành hình. Tần Cối tâm thần mê sảng, hễ nhắm mắt vào thì lại thấy một vị thần giơ chùy mà tiến đến, vài ngày sau hoại thư ung nhọt lan rộng, hắn chết. Lúc Tần Cối sắp chết những người xung quanh nghe thấy hắn kêu lớn: “Tha mạng”, lại nghe thấy tiếng xích sắt vang lên. Không lâu sau, con trai hắn là Tần Hy cũng chết.

Tần Cối có một viên nha dịch là Hà Lập, đến vùng Đông Nam công cán thì hoảng hốt thấy mình lạc vào Âm phủ. Nhìn thấy Tần Hy đang mang xiềng xích, bèn hỏi: “Thái sư đang ở đâu?“. Tần Hy khóc nói rằng cha mình đang ở Phong Đô. Hà Lập đi theo lời ấy đến nơi, quả nhiên nhìn thấy Tần Cối và Vạn Sĩ Tiết đều mang xiềng xích, đang bị độc hình tra tấn. Chúng nói với Hà Lập: “Hãy nói cho phu nhân biết, vì hãm hại Nhạc Phi mà báo ứng đã phát tác rồi“.

Khi nghe Hà Lập về kể chuyện, Vương Thị đột nhiên nhìn thấy cảnh Tần Cối đang bị xiềng xích đầy mình, sợ đến hồn phi phách tán, lại nhìn thấy ma quỷ cầm chùy sắt và xiềng xích tiến lại gần, rồi đầu mụ bị chùy đánh trúng ngã lăn quay. Mọi người bên ngoài chỉ nghe tiếng mụ kêu lên hốt hoảng: “Tha mạng“, lại gần mà xem thì ra Vương Thị đã chết rồi.

“Thanh sơn hữu hạnh mai trung cốt. Bạch thiết vô cô chú nịnh thần“. Đó là câu thơ người xưa vịnh mộ Nhạc Phi ở Tây Hồ, Hàng Châu. Ý nghĩa của nó là: Núi xanh có phúc được chôn người trung nghĩa. Sắt trắng không tội mà phải đúc tượng nịnh thần. Tần Cối và vợ là Vương Thị được người đời sau đúc thành tượng đồng, bắt quỳ ở miếu Nhạc Phi, đời đời phải chịu phỉ nhổ.

5 - Nhĩ Chu Vinh

Nhĩ Chu Vinh tự là Thiên Bảo, người Bắc Tú Dung, là tướng lĩnh, quyền thần nhà Bắc Ngụy thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Là một quân sự gia kiệt xuất, nhưng ông không phải là chính trị gia, quyền mưu gia. Chịu ảnh hưởng của Ngụy thư, người đời sau đánh giá ông: Công sánh Tào Tháo, tội tày Đổng Trác.

nhung dai gian than 5

Đối với chính sự, dân tình, ông chẳng quan tâm, chỉ biết dùng vũ lực giải quyết vấn đề. Đối với việc bổ nhiệm quan lại, Nhĩ Chu Vinh xin cho ai thì không được không thành công, ông từng phái người của mình đi giành lấy quan chức, đuổi đi người mà triều đình mới bổ nhiệm.

Nhĩ Chu Vinh có công lớn trong việc dẹp yên loạn lạc cho triều Bắc Ngụy, tuy nhiên cậy thế cậy quyền, nên sau này đã bị Hiếu Trang Đế giết chết. Cái chết Nhĩ Chu Vinh, khiến cho triều đình Bắc Ngụy rơi vào cuộc chiến giữa gia tộc Nhĩ Chu với quân Triều Đình. Triều đình Bắc ngụy vì thế mà ngày càng suy yếu để rồi dẫn đến diệt vong.

6 - Hòa Thân

Hòa Thân (1750 - 1799), tự Trí Trai, là người Chính Hồng Kỳ Mãn Châu. Thời thiếu niên nghèo khổ không có chỗ dựa, cha của ông ta là một Phó đô thống vô danh, nhưng tổ tiên của ông ta là Ni Nhã Ha có công lớn. Vì thế Hòa Thân kế thừa chức tam đẳng khinh xa đô úy, không lâu sau được làm tam đẳng thị vệ, được làm cảnh vệ của Càn Long.

Nhờ trời phú cho sự lanh lợi, nhạy bén, Hòa Thân dễ dàng nắm bắt được tâm ý của Hoàng đế, rồi tìm mọi cách để làm vui lòng nhà vua. Được Hoàng đế che chở, lại thêm việc có chức có quyền, đại tham quan này không chỉ lén lút mua quan bán chức mà còn công khai tham nhũng, nhận hối lộ, vơ vét tài sản chẳng khác nào “cướp giữa ban ngày”.

nhung dai gian than 6

Là sủng thần bên cạnh Càn Long, Hòa Thân có đủ năng lực để cất nhắc người này, hạ bệ người kia. Quan lại lúc ấy đều biết nguyên tắc “không hối lộ, không gặp mặt” của Hòa đại nhân, liền thay nhau dâng lên những báu vật hiếm lạ trong nhân gian để đút lót. Sau khi Càn Long chết, Gia Khánh kế vị, Hòa Thân bị giết, gia sản bị tịch thu, kết quả khiến mọi người kinh ngạc.

Tổng gia sản tịch biên được của Hòa Thân có tất cả 1,1 tỷ lạng bạc trắng, tương đương với thu nhập 15 năm của triều Thanh. Bởi vậy, dân gian khi ấy mới lưu truyền câu nói: “Thứ Càn Long có Hòa Thân có, thứ Càn Long không có Hòa Thân chưa chắc không có!”. Sau này nghe nói, số lớn của cải châu báu tịch thu được đều được Gia Khánh cho người đến chuyên chở về cung. Vì thế trong dân gian có câu nói châm biếm vần miệng là: “Hòa Thân bị đổ, Gia Khánh vớ bở“.

7 - Dương Quốc Trung

Dương Quốc Trung, tên thật là Dương Chiêu vốn là anh họ của Dương Quý Phi. Ông vốn là một người lười biếng, quanh năm chỉ biết đến bài bạc. Tuy nhiên được Dương Quý Phi cất nhắc, Dương Quốc Trung đã được Đường Huyền Tông tin tưởng. Từ năm 746, Quốc Trung liên tục thăng tiến, ngoi lên chức Ngự sử trung thừa. 

nhung dai gian than 7

Lợi dụng địa vị và vị trí của em gái họ mình, Dương Quốc Trung đã hãm hại nhiều trung thần của Đường Triều. Đầu năm 753, Dương Quốc Trung được Huyền Tông phong làm Tể tướng. Ông ta làm tể tướng 19 năm, là vị tể tướng tại vị lâu nhất dưới thời Huyền Tông, và trong 19 năm đó, đã làm cho quốc lực nhà Đường suy yếu trầm trọng, là mầm mống là họa loạn về sau của nhà Đường. Chính Dương Quốc Trung cũng là người khiến An Lộc Sơn tạo phản. Người sau cho rằng, chính Dương Quốc Trung đã đào hố chôn "Khai Nguyên Thịnh Thế". 

8 - Lý Lâm Phủ

Triều Đường dưới sự cai trị của Đường Huyền Tông, có một người nổi tiếng xấu xa nhưng đã giữ chức Tể tướng trong thời gian dài nhất, đó là Lý Lâm Phủ (683 - 752 ). Ông ta làm Tể tướng suốt 19 năm. Trong thời gian nắm quyền, mọi việc đều bê trễ, bị người người chê trách.

Trong suốt những năm giữ chức vụ của mình, Lý Lâm Phủ chuyên dùng lời bỡ đỡ lấy lòng Hoàng thượng, mưu mô hãm hại người khác. Trước mặt, ông ta tỏ ra chân thật lấy lòng người khác để họ trò chuyện nói ra những suy nghĩ của mình, sau lưng ông ta sẽ đem những chuyện đó của họ tấu lên Hoàng thượng.

nhung dai gian than 8

Những người này nếu không bị cách chức thì cũng không thể thăng tiến lên được. Người đời gọi Lý Lâm Phủ là người “miệng mật lòng gươm”, kéo bè kết phái, bài trừ người đối lập, tham ô hối lộ, sống một cuộc sống xa xỉ.

Lý Lâm Phủ không biết đã hãm hại bao nhiêu người hiền tài, lừa gạt bao nhiêu lương thần, khiến cho trong triều đình các gian thần lên ngôi, bọn tiểu nhân tha hồ giương oai giễu võ, tạo nên thế lực xấu xa và đen tối trong xã hội, từ đó dẫn tới biến loạn An Lộc Sơn những năm cuối đời Thiên Bảo.

Lý Lâm Phủ cùng với Đường Huyền Tông cuối đời mê đắm thanh sắc, tham lam hưởng lạc không cần biết tới tương lai của triều đình. Năm 752, Lý Lâm Phủ bị bệnh mà chết. Lý Lâm Phủ vừa chết bị Dương Quốc Trung tố giác, ngay lúc chưa chôn cất liền bị lột bỏ tước vị và được mai táng như dân thường, con cháu bị đày đi Lĩnh Nam.

9 - Đổng Trác

Đổng Trác (132 - 192 ) tự là Trọng Dĩnh, người Lâm Thao Lũng Tây, tính tình rất hung dữ, hiếu chiến. Thời còn trẻ, ông ở gần người dân tộc Khương, có giao du với các hào soái địa phương. Trác nổi tiếng là một gian thần, một quân phiệt tàn bạo, giữ chức Thứ sử Tịnh Châu. Lợi dụng sự tiến cử của Viên Thiệu với Đại tướng quân Hà Tiến, người đang muốn tiêu diệt thế lực hoạn quan, Đổng Trác đã tiến kinh khống chế kinh thành, phế Hán Thiếu Đế Lưu Biện, lập Hán Hiến Đế Lưu Hiệp.

Tháng 4 năm Sơ Bình thứ 3 (192), Hán Hiến đế vừa khỏi bệnh, dự cuộc họp triều thần tại Mạt Ương điện. Thế là Vương Doãn và Sĩ Tôn Thuỵ mật tấu với Hán Hiến đế việc mưu sát Đổng Trác. Sĩ Tôn Thuỵ đem chiếu thư giao cho Lã Bố, lệnh cho Lã Bố cùng mười mấy dũng sĩ tâm phúc nguỵ trang thành vệ sĩ mai phục sẵn tại Bắc Dạ môn chờ Đổng Trác đi tới.

nhung dai gian than 9

Vừa lúc Đổng Trác sắp đến thì con ngựa sợ hãi không đi nữa. Đổng Trác cảm thấy kỳ lạ định quay trở về. Lý Túc khuyên Đổng Trác cứ đi, thế là người ngựa kéo nhau vào Bắc Dạ môn. Lý Túc dùng đao đâm Đổng Trác. Nhưng Đổng Trác mình mặc áo giáp nên không bị giết, chỉ bị thương ở bả vai, nhảy xuống xe.

Trác quay đầu hô lớn: “Lã Bố con ta đâu? Mau đến cứu ta“. Lã Bố đáp: “Ta phụng lệnh chiếu thư hoàng đế đến giết tên kẻ cướp này!“, rồi vung cây mâu giết chết Đổng Trác, quân lính ùa lên băm chém Trác. Lã Bố cưỡi ngựa công bố chiếu thư tiêu diệt Đổng Trác để cho mọi người trong ngoài triều đình đều biết. Quân binh ai cũng hô to vạn tuế, nhân dân thì ca múa nhảy nhót, hoan lạc trên đường phố.

Triều đình cử Hoàng Phủ Tung đến My Ổ vây đánh Đổng Mân, em trai của Đổng Trác, bắt giết mẹ, vợ và con gái của hắn, coi như tiêu diệt tông tộc Đổng thị. Đổng Trác bị bêu đầu ở ngoài phố, thân xác bị châm lửa đốt. Thiêu đốt xong, tro bụi bay đầy đường. Từ trong thành My Ổ, vốn là lô cốt của Đổng Trác, người ta lấy ra được hơn hơn 2 vạn cân vàng, khoảng 8 vạn cân bạc, còn nhiều châu báu, gấm vóc, lương thực khác chất cao như núi.

Cổ nhân tin rằng: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo“. Tục ngữ cổ cũng có câu: “Thiện ác không phải không có báo mà là chưa đến lúc“. Câu chuyện về những đại gian thần trong lịch sử phải chịu số phận thê thảm một lần nữa lại minh chứng cho điều này, quả là tấm gương lớn cho hậu thế soi mình.

10 - Thái Kinh

Sái Kinh hay Thái Kinh (1047-1126) là thừa tướng nhà Bắc Tống trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người giữ chức vụ quan đầu triều nhiều lần nhất thời Bắc Tống.

nhung dai gian than 10

Thái Kinh là người xảo quyệt, biết luồn cúi để tiến thân, nhiều lần lên voi xuống chó. Chức vụ cao nhất Thái Kinh từng giữ là Thừa tướng. Tuy giữ chức vụ cao, nhưng Thái Kinh không lo lắng việc xây dựng phát triển quốc gia, cũng như trợ giúp Hoàng đế xây dựng vương triều vững mạnh mà chỉ biết xúi giục, vào hùa với Tống Huy Tông ăn chơi, hưởng thụ. Việc này khiến tiêu tốn rất nhiều tiền của, công sức của nhân dân, khiến nhân dân oán thán. Ngoài ra, Thái Kinh còn lợi dụng chức quyền, hãm hại nhiều quan lại trong triều đình, khiến họ mất chức hoặc phải thuyên chuyển đi nơi khác.

Cuối đời Sái Kinh bị con mình là Sái Du lập mưu khiến Tống Huy Tông ép ông phải từ chức. Sau khi từ chức, Sái Kinh suy sụp, ngã bệnh. Sau bị lưu đày ở Lĩnh Nam, trên đường lưu đày, Thái Kinh bị dân chúng oán ghét, không bán lương thực, thực phẩm cho. Ít lâu sau thì qua đời. Hoàn cảnh lúc đó khó khăn không có quan tài, người nhà mang xác ông gói vào vải xanh xấu mà dân gian thường dùng rồi chôn tại nghĩa địa ở địa phương.

11 - Trương Bang Xương

Trương Bang Xương (1083-1127), tự là Năng, là người Đông Quang thuộc Vĩnh Tịnh Quân (nay là huyện Đông Quang, tỉnh Hà Bắc), xuất thân là tiến sĩ, rất giỏi nịnh bợ người khác, vì thế còn đường làm quan của ông ta rất rộng mở. Khi Tống Khâm Tông lên kế vị, ông ta được làm tể tướng, trở thành nhân vật quyền lực trong triều đình. Tháng mười năm thứ bảy Tuyên Hòa (năm 1125), quân Kim chia làm hai đường tấn công triều Tống. Trương Bang Xương sợ địch như sợ cọp, sợ chiến tranh khi xảy xa, làm ảnh hưởng đến tiền đồ, vì thế chủ trương làm hòa. 

nhung dai gian than 11

Sau khi quân Kim đánh xuống, Trương Bang Xương chấp nhận, cam tâm làm bù nhìn cho chúng và được người Kim dựng lên làm Hoàng đế. Sau này, khi quân Kim rút đi, Trương Bang Xương vì sợ hãi dân chúng và các thế lực của triều đình cũ nên đã từ bỏ ngôi vị bù nhìn.

Sau khi Tống Cao Tông kế vị, Trương Bang Xương ra sức lấy lòng, không những bảo toàn được sinh mạng của cả nhà, mà còn được làm tiết độ sứ Thái Bảo, Phong Quốc Quân, còn được phong là Đồng An quân vương, có thể nói đây là điều mỉa mai của triều Tống. Năm 1127, Lý Cương cùng các vị đại thần dâng sớ yêu cầu Tống Cao Tống trừng trị kẻ bán nước Trương Bang Xương, Cao Tông biết rõ tội ác của Trương Bang Xương, liền quyết tâm, ra lệnh cho Trương Bang Xương tự xử. Trương Bang Xương phải treo cổ tự sát.

12 - A Hợp Mã

A Hợp Mã (?-1282), là đại thần “Lý Tài” thời Nguyên Thế Tổ. Sinh ra ở vùng Hoa Lạt Tử Mô Phí Nạp Khách Thắc (nay thuộc vùng Toshkent thuộc cộng hòa Uzbekistan). Ông ta sớm đã đi theo Án Trần Na Nhan - cha ruột của hoàng hậu của Hốt Tất Liệt, sau đó làm cận thần ở cung Oát Nhĩ Đóa của Hoàng hậu Sát Tất. Năm Trung Thống thứ tư thời Nguyên Thế Tổ (năm 1263), A Hợp Mã bắt đầu bước vào chính trường, năm thứ hai đã được đặc cách đề bạt làm Trung Thư Tỉnh giải quyết chính sự, được coi như chức vụ Phụ Tể Tướng, được thăng làm Vinh Lộc Đại Phu.

nhung dai gian than 12

Kẻ thù của A Hợp Mã rất nhiều, trời giận người oán, ai ai cũng muốn giết ông ta. Sau này, A Hợp Mã và thái tử Chân Kim mâu thuẫn ngày càng lớn, Chân Kim quyết định giết chết A Hợp Mã. Vào đêm ngày mùng bảy tháng ba năm 1282, Chân Kim cuối cùng đã lập kế hoạch hành thích A Hợp Mã. Sau khi A Hợp Mã chết, trong nhà ông ta tìm được hai tấm da người, những tội ác khác của ông ta cũng được phơi bày. Hốt Tất Liệt nổi giận, ra lệnh vứt xác của A Hợp Mã ra ngoài thành để dã thú ăn thịt. Không lâu sau vợ, thiếp, con cái, và cả tay chân trong bè đảng của A Hợp Mã bị giết chết, đồng thời có 714 thành viên trong bè phái cũng lần lượt bị trị tội.

13 - Nghiêm Tung

Nghiêm Tung (1480-1567), tự Duy Trung, hiệu Giới Hề, còn có hiệu là Miễn Am, người Phân Nghi Giang Tây, sinh ra trong một gia đình bình thường, 25 tuổi đỗ tiến sỹ, gia nhập quan trường. Vì mang bệnh, tu dưỡng tại nhà mười năm. Năm thứ mười một Chính Đức thời Minh Vũ Tông (năm 1516) về triều phục chức, nhưng không được như ý, cho đến năm Gia Tĩnh thứ bảy thời Minh Thế Tông mới bắt đầu làm Tả Thị Lang ở bộ Lễ. Để có được chức quan cao hơn, ông ta dốc sức phò trợ cấp trên Hạ Ngôn, được Hạ Ngôn giới thiệu.

Nghiêm Tung một bước lên mây, được phong làm Sử bộ Hữu Thị Lang, không lâu sau được thăng chức làm Nam Kinh lễ Bộ thượng thư, tiếp sau đó được làm Nam Kinh sử bộ thượng thư, leo lên được chức vụ cao. Hạ Ngôn sau khi làm Đẩu Phụ Đại Thần, liền điều Nghiêm Tung về Bắc Kinh, phong làm thượng thư bộ Lễ, làm chức quan cao.

nhung dai gian than 13

Nghiêm Tung lại không bằng lòng, trở mặt đặt điều nịnh bợ Thế Tông, được Thế Tông tin dùng, phong ông ta là Thái Tử Thái Bao, nâng lên chức quan nhất phẩm, đồng thời thưởng cho nhiều tiền bạc, giúp cho Nghiêm Tung đạt được mục đích vừa thăng quan vừa phát tài. Nhưng ông ta vong ân bội nghĩa, báo thù Hạ Ngôn - người đã nâng đỡ ông ta, dẫm lên xác Hạ Ngôn mà leo lên chức Thủ Phụ. Ông ta hãm hại đồng liêu, kết bè kết đảng, tham ô tham nhũng, giàu nhất nhì thiên hạ. Vây cánh bè phái và con cháu của ông ta tác oai tác quái, lộng hành triều chính. Nghiêm Tung chuyên quyền loạn chính, khiến triều Minh suy yếu, biên cương bị xâm hại, dân chúng lầm than, nhưng ông ta lại tìm người chịu tội thay mình.

Năm Gia Tĩnh thứ bốn mốt (năm 1562), tội ác của Nghiêm Tung bị phơi bày, Thế Tông lệnh cho Nghiêm Túc bãi chức, cho về quê tu dưỡng. Con cháu và vây cánh của ông ta bị phái đến vùng biên ải. Con trai của Nghiêm Tung Nghiêm Thế Phiên và tay chân La Long Văn trên đường đi đày đã trốn về quê, chiêu nạp những kẻ lưu manh, tung hoành ở quê hương, làm rất nhiều việc ác, bị triều đình chặt đầu. Nghiêm Tung bị điều xuống làm thứ dân, gia sản bị tịch thu, người nhà và vây cánh bị trị tội. Năm Long Khánh thứ nhất (năm 1567), Nghiêm Tung 87 tuổi sống trong nghèo khổ bệnh tật, chết trong sự phỉ nhổ của mọi người. Khi ông ta chết, mộ không những không có quan tài mai táng, lại càng không có người đến hỏi thăm, cho đến những năm đầu Vạn Lịch, Trương Cư Chính chấp chính, mới dặn dò Nghi huyện lệnh mai táng cho ông ta.

14 - Ngao Bái

Ngao Bái hay Ngạo Bái là một viên tướng người Mãn Châu của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ngao Bái chính là Mãn Châu đệ nhất dũng sĩ (Ba Đồ Lỗ) dưới thời vua Khang Hi, tham gia chinh chiến từ thời Hoàng Thái Cực, Ngao Bái với sức khỏe vốn có, sự dũng cảm thiện chiến, tàn bạo đã lập không ít công lao cho người Mãn Châu cũng như nhà Thanh trong việc xâm lăng phương Nam. Dưới triều Khang Hi, ông là một trong tứ trụ đại thần quyền cao, chức trọng.

Ngao Bái ngạo mạn khinh thường vua nhỏ, thường cáo bệnh ốm không vào triều, khiến Khang Hi phải đến tận nhà thăm hỏi. Một lần Khang Hi cùng thị vệ Hòa Thác tới thăm, thấy Ngao Bái không hề ốm yếu. Hòa Thác tới giường Ngao Bái xem, phát hiện ra dưới đệm có con dao. Ngao Bái rất lo lắng nhưng Khang Hi lại không tỏ thái độ gì, cho rằng việc mang dao bên người là tập quán bình thường của người Mãn. Do đó Ngao Bái yên tâm không bị Khang Hi nghi ngờ.

nhung dai gian than 14

Lấy lý do thích đánh cờ, Khang Hi triệu tập con Sách Ni là Sách Ngạch Đồ vào cung để bàn kế trừ Ngao Bái. Ông phong cho Ngao Bái làm Nhất đẳng công để Ngao Bái lơ là mất cảnh giác, mặt khác Khang Hi lấy cớ thích học võ nghệ để tuyển chọn nhiều người trong hàng ngũ con em thân vương làm thị vệ cho Ngao Bái. Sau đó, Khang Hi lấy cớ điều bớt những người vây cánh của Ngao Bái đi làm quan ở nơi xa.

Năm 1669, khi Ngao Bái vào cung yết kiến, Khang Hi ra lệnh cho đội thị vệ thân tín bắt giữ. Ông kể tội, cách chức Ngao Bái. Vì nể công lao từng cứu sống Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, Khang Hi tha chết và giam Ngao Bái vào ngục, và lệnh bắt những người trong cùng vây cánh Ngao Bái.Không lâu sau khi bị bắt giữ, Ngao Bái lâm bệnh chết trong ngục.

15 - Ngụy Trung Hiền

Ngụy Trung Hiền (1568 - 1627) nguyên tên là Ngụy Tiến Trung, là người Túc Ninh, tỉnh Hà Bắc, là một hoạn quan vào cuối triều nhà Minh. Thời trẻ, Trung Hiền vốn là một kẻ vô lại, ham mê đánh bạc, ăn chơi trác táng. Vì thua tiền, bị đòi nợ, hắn phải trốn chui trốn lủi không còn đường sống, bèn phải tự thiến để vào cung, làm một tiểu hoạn quan.

Năm 1589, Trung Hiền vào cung cấu kết với Khách Thị là nhũ mẫu của Hoàng đế Hy Tông, bắt đầu “một bước lên mây”, trở thành một trong những hoạn quan chuyên quyền nổi tiếng lịch sử. Khi Hy Tông lên ngôi, Ngụy Trung Hiền được tín nhiệm, bèn câu kết với Khách Thị, bài trừ những người đối lập, kéo bè kết phái.

nhung dai gian than 15

Năm Thiên Khải thứ 3 (1623), Ngụy Trung Hiền kiêm luôn việc trông coi Đông xưởng, vốn là cơ quan đặc vụ của triều đình, thế lực ngày càng mạnh. Nội các của triều đình đều là tay chân của Ngụy Trung Hiền, bọn họ tranh nhau gọi ông là cha, là ông nội, tự xưng mình là con nuôi, cháu nuôi. Những nhân vật quan trọng của đảng hoạn quan Ngụy Trung Hiền là “Ngũ hổ”, “Thập cẩu”, “Thập hài nhi”, “Tứ thập tôn”…

Ngụy Trung Hiền lộng quyền triều chính, giết hại người đối lập đến nỗi mà người ta “chỉ biết đến Ngụy Trung Hiền chứ không biết đến Hoàng thượng”. Năm 1627, sau khi Minh Tư Tông kế vị đã khép Ngụy Trung Hiền phạm 10 đại tội và xử theo quân pháp. Ngụy Trung Hiền treo cổ tự vẫn mà chết, đảng phái của ông ta cũng bị quét sạch, tiếng ác lưu truyền ngàn đời.

Trên đây là danh sách 15 đại gian thần khét tiếng trong lịch sử Trung Hoa. Nếu du khách là người có niềm đam mê với văn hóa, lịch sử của đất nước Trung Hoa thì hãy đặt cho mình một tour du lịch Trung Quốc của Viet Viet Tourism nhé! Chắc chắn du khách sẽ có được những sự hiểu biết thú vị khi đặt chân đến vùng đất rộng lớn này.

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG

098 3355 639
0919 558 631
Thanh Thanh: skype viber zalo
0919 558 631 - 0168 986 8984
Thanh Hùng: skype viber zalo
090 303 1476 - 093 714 1976
 
 
G

1900 3020

du lich my 39tr
du lich chau au 39tr
Vé máy bay Eva Air
Vé máy bay Cathay Pacific
Vé máy bay Japan Airlines
Vé máy bay Air Canada
Vé máy bay Air China
Vé máy bay Aeroflot

Tin Tức Mới Nhất