Slider

Người Tráng hay người Choang là một nhóm dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trị Quảng Tây phía Nam Trung Quốc. Ngoài ra một số sống ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam. Họ được xếp vào một trong số 55 dân tộc thiểu số được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận.

Người khởi xướng trang "người Tráng online" đưa ra từ "rauz" làm tên gọi chung cho người Bố Y, Tráng và một số nhóm Tai ở Việt Nam. Dân số Tráng ước tính khoảng 18.000.000 người, xếp thứ hai sau người Hán. 94% dân số Tráng sống tại tỉnh Quảng Tây, tập trung ở phía Tây và Tây Nam tỉnh. 

LỊCH SỬ VỀ NGƯỜI TRÁNG Ở TRUNG QUỐC

Thời kỳ đế chế Trung Hoa

Các ghi nhận lịch sử sớm nhất về người Tráng được khám phá cho đến nay là Bích họa Hoa Sơn, có từ thời chiến quốc (475–221 TCN).

Có rất ít các ghi chép tiếng Hán trước khi người Hán xâm nhập vào khu vực người Tráng, sự ám chỉ đơn giản đến vùng đất phía nam sông Trường Giang là "Bách Việt". Những cuộc xâm lấn phương nam của Tần Thủy Hoàng được trình bày trong sử ký của Tư Mã Thiên. Cuộc tấn công lúc đầu vào vùng Lĩnh Nam đã tỏ ra thảm bại, với sự thất bại của tướng Đồ Thư trong trận đánh năm 218 TCN, nhưng công binh của ông, Sử Lộc đã hoàn thành việc xây dựng kênh Linh nối liền hai con sông Tương Giang và Ly Giang. Năm 214, Triệu Đà và Nhâm Ngao quay trở lại và bình định tộc người Tây Âu, khai phá Quảng Tây và phía nam với sự nhập cư của hàng trăm nghìn người Hán.

Một thập kỷ sau sự sụp đổ của Nhà Tần, Triệu Đà sử dụng vị trí của mình với tư cách là quận úy Quận Nam Hải, lập nước Nam Việt và đặt thủ đô ở Phiên Ngung. Với giải pháp quy thuận và độc lập khỏi sự kiểm soát của Nhà Hán, vương quốc này đã mở rộng sự thực dân và Hán hóa bằng chính sách "hòa hợp bách việt" cho đến năm 211 TCN nhưng không được sự ủng hộ của người Tráng.

Nhà Hán đã giảm bớt quyền lực địa phương và lập các căn cứ quân sự ở Quế Lâm, Ngô Châu, và Ngọc Lâm. Cuộc nổi dậy ở Giao Chỉ do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị tướng Mã Viện đàn áp năm 42, Mã Viện được ghi nhận với tư cách giúp bình định những vùng này bằng việc cải thiện hệ thống tưới tiêu và nhiều điều luật Hán. Cuộc di cư của Người Dao từ vùng gần Trường Sa, Hồ Nam tới Quảng Tây ngày nay đã làm đảo lộn khu vực này.

nguoi trang 4

Dưới thời Đường, người Tráng chuyển sang ủng hộ vương quốc Thái là Nam Chiếu ở Vân Nam, nước này đã đẩy lui hai cuộc tấn công của quân Đường năm 751 và 754. Quảng Tây khi ấy được chia thành hai vùng: một là vùng thuộc thế lực của người Tráng phía tây Nam Ninh và một là vùng thế lực của người Hán phía đông Nam Ninh.

Sau khi Nam Chiếu sụp đổ, Lưu Nghiễm thành lập nước Nam Hán. Nước này hầu như không thể kiểm soát được người Tráng, sau đó Nam Hán bị Tống đánh chiếm và sát nhập năm 971.

Bị quấy rối bởi cả Tống lẫn Đại Cồ Việt, lãnh đạo Tráng tộc là Nông Trí Cao đã chỉ huy cuộc nổi dậy năm 1052, vì điều đó mà ông vẫn được người Tráng tưởng nhớ. Họ Nông được ghi chép lại trong Tống Sử là giàu có về vàng, đông đúc về dân số "để tóc dài, cài áo sang phía trái. Chúng thích chiền đấu và xem nhẹ cái chết". Quân Nông càn quét sang phía tây, chiếm Nam Ninh, bao vây Quảng Châu 57 ngày, và giết các chỉ huy của năm đội quân Trung Hoa được cử đi đánh họ.Cuối cùng họ bị đánh bại và nhiều thủ lĩnh bị giết. Các dòng họ không tham gia vào cuộc nổi dậy tham vọng này trở thành mục tiêu đồng hóa của Trung Hoa. Một số tàn quân nổi dậy tẩu tán về quê cũ nơi họ bắt đầu cuộc khởi nghĩa. Một số khác lẩn sâu vào vùng đồi núi. Các bộ tộc mang họ Nông và tự nhận là con cháu của quân nổi dậy định cư quanh vùng biên giới giữa Việt Nam-Quảng Tây-Vân Nam. Một bộ phận khác vẫn mang họ Nông và ghi nhớ cuộc nổi dậy qua các câu chuyện truyền miệng sinh sống ở Sipsongpanna, Lanna (miền bắc Thái Lan), và Dehong. Tiếng Lự, Yuan (phương ngữ miền bắc Thái Lan) và Dehong ở những khu vực này chứa các từ vựng và cấu trúc câu chỉ thấy ở người Tráng sống tại Quảng Tây.

Nhà Nguyên-Mông thiết lập quyền kiểm soát với Nam Tống sau trận Nhai Môn năm 1279 và thôn tính nước Đại Lý ở Vân Nam. Thay vì việc cai trị vùng Lĩnh Nam như một lãnh thổ lệ thuộc, người Mông Cổ chấp nhận Quảng Tây như là một tỉnh chính thức, nhưng việc đưa người Miêu từ Quý Châu và Hồ Nam vào đã làm vùng này bất ổn.

Khu vực này tiếp tục trở nên khó kiểm soát, nhà Minh đã sử dụng các nhóm dân tộc khác nhau để chống lại nhau. Một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử Tráng là tại Hẻm Mây Lớn chống lại người Dao 1465, nơi 20.000 người chết đã được ghi nhận.

Nhà Mãn-Thanh đã bỏ mặc khu vực này cho đến khi áp đặt quyền cai trị trực tiếp năm 1726. Thế kỷ thứ 19, khu vực này là một vùng bất ổn liên tục. Cuộc nổi dậy của người Dao năm 1831 được nối tiếp bằng Thái Bình Thiên Quốc năm 1850. Vụ các viên chức địa phương hành hình giáo sĩ Auguste Chapdelaine ở Quảng Tây đã gây ra chiến tranh nha phiến lần 2 năm 1858 và sau đó là sự can thiệp của Pháp vào Quảng Tây.

nguoi trang 3

Thời hiện đại

Sau Khởi nghĩa Vũ Xương, Quảng tây ly khai khỏi đế chế Mãn-Thanh ngày 6 tháng 11 năm 1911. Tuần phủ Thanh là Thẩm Bỉnh Khôn, lúc đầu vẫn tại vị, nhưng sau đó bị loại bỏ bởi một cuộc binh biến do tướng Lục Vinh Đình chỉ huy. Cựu Quế Hệ của tướng Lục đã vươn ra Hồ Nam và Quảng Đông và giúp chống lại nỗ lực tái lập lại chính phủ đế quốc của Viên Thế Khải trong cuộc Hộ quốc chiến tranh. Lòng trung thành của người Tráng đã làm Quân chính phủ tự trị của ông vững mạnh nhưng miễn cưỡng di chuyển ra xa các tỉnh của mình. Sau đó, mối hiềm khích với Tôn Dật Tiên dẫn đến thất trận năm 1920 và 1921 trong Chiến tranh Việt Quế. Sau thời gian chiếm đóng ngắn bởi lực lượng Quảng Đông của Trần Quýnh Minh, Quảng Tây rơi vào chia rẽ và cướp bóc nghiêm trọng trong vài năm cho đến khi Quân bình định Quảng Tây của Lý Tông Nhân lập ra Tân Quế Hệ do Lý, Hoàng Thiệu Hoành và Bạch Sùng Hy đứng đầu.

Trận đánh thắng lợi ở Hồ Nam chống lại Ngô Bội Phu dẫn đến quân bình bịnh Quảng Tây của người Tráng được gọi là "quân thần tốc" và "quân thép". Sau cái chết của Tôn Dật Tiên, Lý còn đánh lui cuộc biến loạn của Đường Kế Nghiêu trong chiến tranh Vân Nam-Quảng Tây và tham gia chiến tranh Bắc Phạt thiết lập sự kiểm soát của phe Quốc Dân Đảng với các tướng quân phiệt khác. Quân của ông là một trong số ít đơn vị Quốc Dân Đảng không bị ảnh hưởng của cộng sản và vì vậy được Tưởng Giới Thạch sử dụng trong Cuộc thảm sát Thượng hải năm 1927.

Sau mối bất hòa với Tưởng, Lý đã tham gia vào cuộc nổi loạn của Diêm Tích Sơn trong cuộc Trung Nguyên Đại Chiến tháng 5 năm 1930. Sự bại trận của ông đã không loại bỏ ông khỏi sự kiểm soát Quảng Tây, với Sự cố Mãn Châu và cuộc xâm lược của Nhật Bản đã ngăn cản Tưởng và phe Cộng sản loại bỏ ảnh hưởng của ông cho đến năm 1949. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Quảng Tây là một mục tiêu chính cho các cuộc tấn công của Nhật Bản. Chiến dịch Ichi-Go năm 1944 thành công đã mở rộng sự kiểm soát của Nhật Bản dọc tuyến đường sắt qua Quảng Tây vào Đông Dương thuộc Pháp, nhưng tuyến đường này vẫn bị tấn công liên tục bởi các máy bay ném bom Mỹ và nhóm bán quân sự người Tráng dưới quyền Bạch Sùng Hy.

NGÔN NGỮ

Tiếng Tráng là một nhóm các phương ngữ không thể thông hiểu lẫn nhau thuộc ngữ chỉ Tại, bị ảnh hưởng nhiều bởi các phương ngữ của tiếng Hoa. Tiếng Tráng chuẩn dựa trên một phương ngữ phía bắc gọi là Tráng Ung Bắc được nói tại huyện Vũ Minh tỉnh Quảng Tây. Tiếng Tráng chuẩn được xếp vào ngữ nhánh Tại Bắc, gần với tiếng Bố Y, rất ít người học loại tiếng này. Do đó người Tráng từ những vùng nói phương ngữ khác nhau sử dụng một trong số các phương ngữ của tiếng Hoa để giao tiếp.

Theo thống kê của thập niên 1980, 42% người Tráng chỉ nói tiếng Tráng, và 55% nói được cả tiếng Tráng và Tiếng Trung. Theo một số nguồn bán chính thức "tại Quảng Tây, giáo dục bắt buộc là bằng tiếng Tráng và Tiếng Trung, tập trung vào sự biết đọc viết sớm chữ Tráng". Trên thực tế chỉ một phần trăm nhỏ số trường học dạy viết chữ Tráng. Vào năm 2000, không còn ngôi trường nào thực sự dạy tiếng Tráng ở những vùng sinh sống của người Tráng. Tiếng Tráng được viết bằng chữ tượng hình dựa trên Hán tự trong hơn một nghìn năm. Chữ Tráng chuẩn, một loại bảng chữ cái chính thức, được đưa ra năm 1957, và năm 1982 các kí tự Kirin được đổi hết sang kí tự Latinh, tuy nhiên chữ viết dựa trên kí tự truyền thống vẫn phổ biến hơn trong các hoạt động, nghi lễ ít trang trọng.

nguoi trang 1

TÍN NGƯỠNG

Hầu hết người Tráng theo một tín ngưỡng vật linh truyền thống gọi là Sư Công giáo hay Mo Giáo , bao gồm nghi thức thơ cúng tổ tiên. Mo Giáo có các bài tế riêng và các thầy tế được gọi là bu mo . Trong các nghi thức Mo truyền thống, thầy Mo dùng xương gà để xem quẻ. Trong Mo Giáo, đấng tạo hóa là Bu Luotuo và vũ trụ gồm ba yếu tố với tất cả mọi vật được hình thành từ ba yếu tố này, gồm: trời, đất và nước.

Người Tráng cũng có một số theo Phật Giáo, Đạo Giáo và Thiên Chúa Giáo.

Còn rất nhiều điều thú vị về dân tộc Tráng mà với giới hạn ở bài viết này không thể trình bày hết được. Du khách hãy đặt cho mình một tour du lịch Trung Quốc để tự mình khám phá nhiều hơn nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi với nhiều trải nghiệm thú vị!

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG

098 3355 639
0919 558 631
Thanh Thanh: skype viber zalo
0919 558 631 - 0168 986 8984
Thanh Hùng: skype viber zalo
090 303 1476 - 093 714 1976
 
 
G

1900 3020

du lich my 39tr
du lich chau au 39tr

Tin Tức Mới Nhất